Bệnh lý thần kinh tiết niệu

Bệnh lý thần kinh tiết niệu

Chức năng chủ yếu của đường tiểu dưới là lưu trữ và tống xuất nước tiểu. Nó được chi phối bởi hệ thần kinh và hoạt động của bàng quang. Bất kể bất thường nào liên quan phần thần kinh đó có thể gây ra các triệu chứng thần kinh tiết niệu.

I. NGUYÊN NHÂN

II. TRIỆU CHỨNG RỐI LOẠN THẦN KINH TIẾT NIỆU

III. CHẨN ĐOÁN BỆNH

IV. ĐIỀU TRỊ

V. THEO DÕI

Bác sĩ chuyên khoa

Nguyễn Tường Vũ

Thạc sĩ-Bác sĩ Nguyễn Tường Vũ

Bệnh viện Chợ Rẫy, Tp.Hồ Chí Minh.

Hơn 22 năm kinh nghiệm trong khám, chữa các bệnh lý thần kinh.

Để nhận được trợ giúp: NHẤN GỌI BÁC SĨ VŨ  

Nguyễn Văn Hào

Thạc sĩ Nguyễn Văn Hào

Bệnh viện 103, Hà Nội

Hơn 16 năm kinh nghiệm trong khám, chữa các bệnh lý thần kinh.

Để nhận được trợ giúp: NHẤN GỌI BÁC SĨ HÀO  

Trieu-Chung

Tùy theo mức độ và vị trí tổn thương, một loạt các rối loạn đường tiểu dưới có thể xảy ra . Hơn nữa, các triệu chứng thần kinh-tiết niệu có thể gây ra các biến chứng lâu dài: suy giảm chức năng thận, nhiễm khuẩn tiết niệu. Điều quan trọng là xác định được triệu chứng bệnh, và nguy cơ xảy ra các biến chứng sau đó.

I. NGUYÊN NHÂN

Các triệu chứng thần kinh tiết niệu gây bởi do nhiều bệnh lý và nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến hệ thần kinh chi phối hoạt động đường tiểu dưới. Dưới đây là một số tình trạng có nguy cơ cao gây ra các rối loạn đó:

  • Tổn thương ở cầu não hoặc vùng trên cầu não:

  • Tai biến mạch máu não

  • Sa sút trí tuệ (bệnh Alzheimer chiếm 80%): chiếm 6,4% người lớn trên 65 tuối.

  • Bệnh Parkinson: đứng thứ 2 sau Alzheimer trong nhóm sa sút trí tuệ

  • U não:  triệu chứng bệnh phụ thuộc vào vi trí khối u. Trong đó tiểu ngắt quẵng chủ yếu liên quan đến vùng thùy trán.

  • Chậm phát triển tâm thần và bại liệt  (như chấn thương chu sinh, nhiễm khuẩn từ mẹ sang thai, bệnh lý chuyển hóa, bất thường về gen và bại liệt)

  • Tổn thương hay bệnh lý giữa từ hành não đến tủy cùng:

  • Chấn thương tủy sống

  • Thoát vị tủy- màng tủy và khiếm khuyết ống thần kinh: tật nứt đốt sống bẩm sinh và khuyêt ống thần kinh, trong đó thể lưng và thắt lưng cùng chiếm phổ biến (50%)

  • Tổn thương và bệnh lý thần kinh ngoại biên:

  • Bệnh lý cột sống: Thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống (chủ yếu ở phụ nữ trên 45 tuổi).

  • Tổn thương trong khung chậu: Ung thư đại tràng, ung thư cổ tử cung, phẫu thuật lạc nội mạc tử cung.

  • Bệnh lý thần kinh ngoại biên liên quan đến: tiểu đường, vấn đề nghiện rượu, zona thần kinh thắt lưng cùng, herpes sinh dục, Hội chứng Gullian-Barré, sarcoidosis,…

  • Bệnh lý tổn thương lan tỏa

  • Đa xơ cứng: 80% trong số họ có triệu chứng thần kinh- tiết niệu sau 10 năm, 10% bệnh nhân có rối loạn khi đi tiểu khi khởi phát bệnh.

II. TRIỆU CHỨNG RỐI LOẠN THẦN KINH TIẾT NIỆU

Các bệnh nhân bị rối loạn thần kinh- tiết niệu thường biểu hiện ra các triệu chứng của đường tiểu dưới như:

  • Tăng số lần đi tiểu trong ngày: thông thường số lần đi tiểu vào khoảng 8 lần/ ngày.

  • Tiểu nhiều vào ban đêm: Phải thức dậy vào ban đêm 1, 2 lần hoặc hơn để đi tiểu

  • Tiểu gấp: Phải đi tiểu ngay khi buồn mà không nhịn được.

  • Tiểu rắt: Tiểu rỉ ra không tự chủ có thể xuất hiện khi gắng sức, hoặc khi ho hặt hắt hơi.

  • Rối loạn cảm giác bàng quang:

  • Bình thường: khi bằng quang đầy, con người sẽ càng có cảm giác muốn đi tiểu.

  • Tăng cảm giác: khi bằng quang chưa được đầy, mà bệnh nhân đã có cảm giác muốn đi tiểu ngay lập tức.

  • Giảm cảm giác: mặc dù bằng quang căng đầy, nhung bệnh nhân không có cảm giác muốn đi tiểu.

  • Mất cảm giác: không có cảm giác bàng quang căng nước tiểu.

  • Rối loạn khi đi tiểu:

  • Tia tiểu yếu.

  • Tiểu ngắt quẵng: Khi đi tiểu, tia tiểu không thành dòng liên tục.

  • Tiểu khó: khó khăn khi bắt đầu đi tiểu.

  • Tiểu gắng sức: Phải dùng cơ để bắt đầu, duy trì dòng nước tiểu.

  • Sau khi đi tiểu:

  • Cảm thấy không thoải mái, tiểu chưa hết.

  • Sau khi tiểu vẫn còn dòng tiểu yếu chảy ra không tự chủ sau đó

  • Cảm thấy đau, không thoải mái, căng tức vùng đường tiểu dưới

III. CHẨN ĐOÁN BỆNH

Hỏi bệnh đầy đủ, khám lâm sàng kĩ càng và xem xét nhật ký bàng quang là những việc bắt bắt buộc tiến hành trước quyết định bổ xung xét nghiệm và đưa ra chẩn đoán lâm sàng.

  • Hỏi bệnh:

  • Tiền sử: các yếu tố nguy cơ di truyền gia đình, tuổi bắt đầu hành kinh (liên quan đến một số rối loạn chuyển hóa), tiền sử tiểu đường , béo phì hoặc các bệnh lý thần kinh như (giang mai, Parkinson, đa xơ cứng, viêm não), tiền sử phẫu thuật (đặc biệt liên quan đến phẫu thuật tủy sống và não)

  • Tình trạng hiện tại: Dùng thuốc, lối sống (hút thuốc, uống rượu hay chất gây nghiện)- có thể ảnh hưởng đến chức năng ruột, tiểu tiện và HĐ tình dục, chất lượng cuộc sống.

  • Triệu chứng tiết niệu: Các triệu chứng thần kinh- tiết niệu đã được nêu trên

  • Triệu chứng tiêu hóa: số lần đi ngoài / ngày, tính chất phân, cảm giác khi đi ngoài, đi ngoài tự chủ hay không,…

  • Triệu chứng sinh dục: cảm giác bất thường vùng sinh dục,..

  • Triệu chứng thần kinh: Bất thường thần kinh bẩm sinh hay mắc phải, các triệu chứng về vận động cảm giác, phản xạ tự động,…

  • Nhật ký bàng quang: Nhật ký bàng quang cung cấp thông tin về số lần đi tiểu, lượng nước tiểu mỗi lần, và các triệu chứng thần kinh-tiết niệu mà người bệnh gặp phải.

bệnh lý thần kinh tiết niệu

  • Thăm khám lâm sàng: Tất cả các cảm giác và phản xạ vùng sinh dục- tiết niệu phải được kiểm ra. Hơn nữa, phải kiểm tra kĩ chức năng của cơ thắt hậu môn và cơ sàn chậu. Nó cần thiết góp phần đưa ra các chẩn đoán sau này.

  • Cận lâm sàng:

  • Niệu động học: là một phần quan trọng trong đánh giá các bệnh nhân bị rối loạn chức năng đường tiểu dưới, bao gồm những đánh giá khách quan về chức năng đường tiểu dưới như chức năng của bàng quang, cơ chế hoạt động của cơ thắt niệu đạo, dạng thức của sự đi tiểu, nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho lâm sàng. Những phép đo này bao gồm việc đo lường về áp lực, dung tích, lưu lượng, thế năng điện-cơ và có thể bao gồm các đánh giá X-quang đối với đưởng tiểu dưới

  • Xét nghiệm chức năng thận

IV. ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu chính khi điều trị các rối loạn thần kinh-tiết niệu theo thứ tự là:

1. Bảo vệ đường tiết niệu trên;

2. Cải thiện triệu chứng;

3. Phục hồi (các phần) chức năng của đường tiểu dưới;

4. Cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân.

Cân nhắc thêm đến sự bất tiện của bệnh nhân, hiệu quả chi phí, độ phức tạp của kỹ thuật, và biến chứng.

Lựa chọn điều trị bao gồm:

  • Điều trị bảo tồn hỗ trợ tống xuất nước tiểu: kích thích phản xạ đi tiểu không được khuyến cáo khi có bệnh nguyên gây tăng áp lực trong bàng quang. Chỉ khi không có hoặc đã phẫu thuật giải phóng tình trạng tắng nghẽn ở đầu ra thì mới lựa chọn phương pháp này.

  • Phục hồi chức năng: Luyện tập cơ sàn chậu, kích thích điện vùng sàn chậu, liệu pháp phản hồi sinh học –biofeedback có thể đem lại hiệu quả.

  • Điều trị nội khoa:

  • Khuyến cáo điều trị thuốc: Đối với rối loạn cơ vòng bàng quang hoạt động quá mức do thần kinh, thuốc đối kháng hệ Muscarinic là lựa chọn đầu tiên, có thể sử dụng đường tiêm qua da hoặc tiêm trong cơ bàng quang. Đối với cơ vòng hoạt động kém, không nên dùng thuộc kích thích phó giao cảm. Trong trường hợp tiểu không tự chủ khi gắng sức, không nên điều trị thuốc.

  • Khuyến cáo điều trị không xâm lấn tối thiểu:

Đặt dẫn lưu ngắt quãng: Được dùng với bệnh nhân có không thể đi tiểu hết, nên đặt dẫn lưu bằng phương pháp vô khuẩn, không nên đặt dẫn lưu trên xương mu.

Tiêm độc tố Botulium vào trong cơ vòng bàng quang là phương pháp hiệu quả nhất để giảm tình trạng cơ vòng bàng quang cường tính do thần kinh.

Thủ thuật mở cơ thắt là điều trị tiêu chuẩn đối với rối loạn đồng vận cơ thắt.

Mở cổ bàng quang hiệu quả trogn điều trị xơ hóa cổ bàng quang.

  • Điều trị phẫu thuật: Để cải thiện tình trạng cơ vòng hoạt động quá mức có thể tiến hành phẫu thuật mở rộng bàng quang (bladder augmentation) hoặc làm lớn tự bàng quang/ xẻ cơ bàng quang (destrusor myectomy). Ơ nam giới có triệu chứng tiểu không tự chủ khi gắng sức có thể tiến hành phẫu thuật tạo hình cơ thắt nhân tạo.

V. THEO DÕI:

Rối loạn đường tiểu dưới do nguyên nhân thần kinh thường không ổn định và các triệu chứng có thể biểu hiện rất khác nhau thậm chí chỉ trong khoảng thời gian ngắn. Vì vậy bệnh nhân cần được theo dõi thường xuyên.

Bệnh nhân có nguy cơ cao, nên được đánh giá đường tiểu trên ít nhất 6 tháng 1 lần.

Bệnh nhân có nguy cơ coa, thăm khám lâm sàng và xét nghiệm nước tiểu nên tiến hành hàng năm.

Bất kì các thay đổi nào trên lâm sàng nên được  đánh giá và kiểm ra kĩ càng.

Xét nghiệm niệu động học là một trong những yêu cầu bắt buộc để chẩn đoán bệnh và ở những bệnh nhân có nguy cơ cao nên được tiến hành thường xuyên.

Hãy liên hệ với Hello Doctor chúng tôi theo số điện thoại 1900 1246 để đặt khám với các bác sĩ. 

Bác sĩ khám, điều trị

Nguyễn Tường Vũ

Thạc sĩ-Bác sĩ Nguyễn Tường Vũ

Khoa: Ngoại thần kinh, Nội thần kinh

Nơi làm việc: Bệnh viện Chợ Rẫy

Kinh nghiệm: 22 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Phạm Quỳnh Nga

Thạc sĩ - Bác sĩ Phạm Quỳnh Nga

Khoa: Nội thần kinh

Nơi làm việc: Bệnh viện Đại học Y Dược, Bệnh viện Nhân Dân 115

Kinh nghiệm: 12 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Nguyễn Văn Hào

Thạc sĩ Nguyễn Văn Hào

Khoa: Cơ xương khớp, Nội thần kinh, Ngoại thần kinh

Nơi làm việc: Phòng Quân y – Bộ Tư lệnh Pháo binh

Kinh nghiệm: 16 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa cấp 2

Trần Đình Vũ

Bác sĩ Trần Đình Vũ

Khoa: Nội tổng quát, Nội thần kinh

Nơi làm việc: Bệnh viện Đại Học Y Dược

Kinh nghiệm: 16 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Đánh giá, chia sẻ Gửi đánh giá

  • Hoàng Nhung

    Chào bác sĩ. Tôi bị bệnh này đã 6 tháng nay nhờ bác sĩ giúp đỡ nên bệnh tình đã thuyên giảm. Cảm ơn bác sĩ.

    14/08/2018

Bình luận, đặt câu hỏi

Các thông tin cá nhân của bạn sẽ không bị công khai

Nội dung

Đọc thêm

Bài viết đang được cập nhật...