Thiểu năng trí tuệ
Tóm tắt Bệnh lý
Phân loại Mức độ (Severity)
- Bệnh nhân dễ trở thành nạn nhân của lạm dụng tình dục, bắt nạt xã hội và tai nạn sinh hoạt do thiếu nhận thức nguy hiểm.
Mục lục bài viết
1. Tổng quan Lâm sàng
Tóm tắt nhanh (TL;DR)
Thiểu năng trí tuệ (Intellectual Disability - ID) là sự khiếm khuyết trong sự phát triển nhận thức và kỹ năng sống thích ứng, khởi phát trước 18 tuổi. Chỉ số IQ của trẻ thường dưới 70, khiến trẻ học hỏi rất chậm, gặp khó khăn trong việc hiểu các khái niệm trừu tượng và không thể tự chăm sóc bản thân ở mức độ bình thường.Thông tin Dịch tễ (Key Facts)
- Đây là một khiếm khuyết phát triển, KHÔNG PHẢI là bệnh lý có thể "uống thuốc để khôn lên".
- Với giáo dục chuyên biệt và kiên nhẫn, trẻ vẫn có thể học được các kỹ năng tự phục vụ cơ bản.
Định nghĩa & Sinh bệnh học
Do sự bất thường của gen (như Hội chứng Down nhiễm sắc thể 21, Hội chứng X dễ gãy), hoặc do các tổn thương não từ khi còn trong bào thai, thiếu oxy lúc sinh, hoặc viêm màng não lúc còn nhỏ.2. Triệu chứng và Nguyên nhân
Dấu hiệu & Triệu chứng
- Chậm lẫy, chậm đi, chậm nói.
- Khó khăn trong việc hiểu hậu quả của hành động, không biết dùng tiền, không biết xem giờ.
- IQ < 70, tư duy rất cụ thể (không hiểu phép ẩn dụ, nói bóng gió).
- Các kỹ năng vệ sinh cá nhân, ăn uống phải có người giám sát.
Nguyên nhân gây bệnh
Đột biến di truyền (Down, Fragile X), Suy giáp bẩm sinh, Mẹ uống rượu/nhiễm Rubella lúc mang thai, Chấn thương sọ não nhi khoa.3. Chẩn đoán & Biến chứng
Chẩn đoán & Cận lâm sàng
Đo bài test Trí thông minh (IQ Test như WISC, WPPSI) kết hợp đánh giá chức năng thích ứng xã hội (Vineland).Cần Tư vấn Y khoa Chuyên sâu?
Hello Doctor - Mang sức khỏe đến cuộc sống
4. Phác đồ Điều trị
Tổng quan Phác đồ
Giáo dục chuyên biệt (Special Education) là phương pháp duy nhất. Mục tiêu cốt lõi là tối đa hóa kỹ năng tự phục vụ (đánh răng, mặc áo, đi vệ sinh) và an toàn lao động giản đơn.Nhóm thuốc hỗ trợ
Không có thuốc chữa bệnh Thiểu năng trí tuệ. Chỉ dùng thuốc nếu trẻ có động kinh đồng mắc, bốc đồng hung hăng (thuốc an thần kinh liều thấp).- Lập Kế hoạch Giáo dục Cá nhân (IEP) tập trung vào kỹ năng sống hơn là học kiến thức hàn lâm.
Thông tin bổ sung
3. Sự khác biệt giữa thiểu năng trí tuệ mức độ nhẹ, trung bình và nặng
Các chuyên gia chia các loại suy giảm khả năng nhận thức thành 4 nhóm: thiểu năng trí tuệ mức độ nhẹ, thiểu năng trí tuệ mức độ trung bình, thiểu năng trí tuệ mức độ nặng, và thiểu năng trí tuệ rất nặng. Mức độ suy giảm của thiểu năng trí tuệ thay đổi rất đa dạng.
Chuyên gia sức khỏe tâm thần phải xem xét năng lực cũng như độ suy giảm của một người thông qua 3 lĩnh vực kĩ năng: khái niệm, xã hội và kỹ năng sống thực tế.
Tư vấn với Bác sĩ Tâm thần - Tâm lý (Bảo mật 100%)
Liên hệ ngay để được chuyên gia hỗ trợ điều trị Trầm cảm, Rối loạn lo âu, Mất ngủ.
Hệ thống phòng khám tại: HCM, Hà Nội
Chi tiết các mức độ thiểu năng trí tuệ được liệt kê bên dưới như sau:
Thiểu năng trí tuệ mức độ nhẹ
- Chỉ số IQ từ 50-70
- Chậm hơn mức bình thường trong mọi lĩnh vực phát triển
- Không biểu hiện kiểu hình bên ngoài bất thường
- Có thể học tập những kỹ năng sống thực tế
- Học được các kĩ năng đọc và làm toán đến mức lớp 3 đến lớp 6
- Có thể hòa nhập vào môi trường xã hội
- Có thể thực hiện các chức năng trong cuộc sống hằng ngày
Khoảng 85% những người thiểu năng trí tuệ thuộc mức độ nhẹ vẫn có khả năng học tập bình thường và nhiều người thậm chí còn đạt được những thành công trong học vấn. Một người có thể đọc, nhưng gặp khó khăn trong việc hiểu những gì mình đọc là ví dụ cho thiểu năng trí tuệ ở mức độ nhẹ.
Thiểu năng trí tuệ mức độ trung bình
- Chỉ số IQ từ 35-49
- Chậm phát triển đáng chú ý (ví dụ như khả năng nói, vận động)
- Có thể có các đặc điểm hình thể thể hiện sự suy giảm trí tuệ (ví dụ như lưỡi dày)
- Có thể giao tiếp theo những cách cơ bản và đơn giản
- Có thể học những kĩ năng đơn giản về sức khỏe và an toàn
- Có thể tự chăm lo cho bản thân
- Có thể tự đi một mình đến những nơi gần và thân thuộc
Những người bị thiểu năng trí tuệ mức độ trung bình có khả năng giao tiếp khá tốt, nhưng không thể giao tiếp ở những mức độ phức tạp. Họ có thể gặp khó khăn trong những tình huống xã hội và gặp vấn đề với những tín hiệu trong xã hội và khả năng phán đoán. Những người này có thể chăm sóc cho mình, nhưng có thể cần nhiều hướng dẫn và hỗ trợ hơn so với người bình thường. Nhiều người có thể sống độc lập, nhưng một số vẫn cần sự hỗ trợ của một nhóm người. Khoảng 10 phần trăm những người khuyết tật trí tuệ rơi vào nhóm trung bình.
Thiểu năng trí tuệ mức độ nặng
- Chỉ số IQ tư 20-34
- Phát triển chậm chạp một cách đáng kể
- Hiểu lời nói, nhưng có ít khả năng giao tiếp
- Có thể học được những thói quen hằng ngày
- Có thể học những việc tự chăm sóc bản thân rất đơn giản
- Cần sự giám sát trực tiếp trong các tình huống xã hội
Chỉ khoảng 3 hay 4% những người được chẩn đoán thiểu năng trí tuệ rơi vào dạng nặng. Những người này chỉ có thể giao tiếp ở mức độ cơ bản nhất. Họ không thể thực hiện tất cả các hoạt động tự chăm sóc bản thân một cách tự lập và cần sự giám sát và giúp đỡ mỗi ngày. Phần lớn người ở nhóm này không thể sống một cách tự lập và sẽ cần sống trong môi trường và cần có nhóm giúp đỡ.
Thiểu năng trí tuệ mức độ rất nặng
- Chỉ số IQ ít hơn 20
- Sự chậm phát triển rõ rệt trong tất cả các lãnh vực
- Bất thường thể chất bẩm sinh rõ ràng
- Cần giám sát chặt chẽ
- Cần người hỗ trợ trong các hoạt động tự chăm sóc
- Không phản ứng kịp trong các hoạt động thể chất và xã hội
- Không có khả năng sống độc lập
Những người thiểu năng trí tuệ rất nặng cần đến sự giúp đỡ và chăm sóc mọi lúc mọi nơi. Họ phụ thuộc vào những người khác trong cuộc sống hằng ngày và rất hạn chế trong khả năng giao tiếp. Thông thường, những người trong nhóm này cũng có những giới hạn về thể chất. Khoảng 1-2% những người thiểu năng trí tuệ thuộc nhóm này.
Tuy nhiên khi đánh giá mức độ thiểu năng trí tuệ, chuyên gia sức khỏe tâm thần sẽ dựa vào cả các chỉ số IQ chứ không phải là chỉ đánh giá khả năng thực hiện các hoạt động sống hằng ngày.
CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
Dịch vụ Khám & Điều trị liên quan
Bác sĩ điều trị
Gửi bình luận của bạn