Rối loạn vận động

Rối loạn vận động

Rối loạn vận động là một căn bệnh mà nhiều người thường mắc phải, bệnh khiến cho người bệnh gặp vấn đề với việc vận động của mình. Có nhiều loại rối loạn vận động như: thất điều, loạn trương lực cơ, run vô căn, Huntington,...

Thuật ngữ "rối loạn vận động" (tên tiếng Anh là Movement disorders) dùng để chỉ một nhóm các tình trạng hệ thống thần kinh (thần kinh) gây ra các động tác tự nguyện, không tự nguyện bất thường, hoặc vận động chậm, giảm vận động. Có các loại rối loạn vận động như sau:

1. Thất điều

2. Loạn trương lực cơ

3. Loạn trương lực cơ toàn thể

4. Run vô căn

5. Bệnh Huntington

6. Bệnh Parkinson

7. Hội chứng Parkinson thứ phát

8. Co thắt cơ

9. Bệnh Wilson

1. Thất điều

Thất điều là triệu chứng do tổn thương não, thân não, hoặc tuỷ sống. Triệu chứng bao gồm: động tác vụng về, không chính xác, mất thăng bằng, dáng đi không vững, run hoặc kém phối hợp điều hoà động tác trong khi thực hiện các vận động chủ ý. Các vận động không còn trơn tru và có vẻ rời rạc hoặc giật giật. Bệnh nhân thường bị té do đi không vững. Thất điều cũng có thể ảnh hưởng đến lời nói hoặc vận động mắt.

Nếu có thể tìm ra một số rối loạn chuyển hoá nào đó gây ra bệnh, các rối loạn chuyển hoá này sẽ có phương pháp điều trị đặc hiệu. Phương pháp điều trị nền tảng cho bệnh nhân bị thất điều do bệnh Parkinson (hoặc hội chứng Parkinson do bất kỳ nguyên nhân gì) là sử dụng L-Dopa uống. Những thuốc khác được dùng để điều trị thất điều do bệnh Parkinson (hoặc hội chứng Parkinson do bất kỳ nguyên nhân gì).

2. Loạn trương lực cơ

Loạn trương lực cơ là một rối loạn hoạt động của cơ do nguyên nhân thần kinh, biểu hiện bằng những co thắt cơ không chủ ý.

Loạn trương lực cơ là hậu quả của bất thường chức năng vùng hạch nền, là phần nằm sâu trong não giúp kiểm soát sự phối hợp vận động. Những vùng não này giúp kiểm soát độ nhanh và độ linh hoạt của vận động và ngăn chặn những vận động không mong muốn. Bệnh nhân bị loạn trương lực cơ có thể bị xoắn vặn không kiểm soát được, những vận động tái diễn hoặc có những tư thế và vị trí bất thường. Những triệu chứng này có thể xảy ra ở bất cứ phần nào của cơ thể, bao gồm tay, chân, thân mình, mi mắt và dây thanh âm.

Bác sĩ chuyên khoa

Đàm Văn Đức

Bác sĩ Trần Thu Phương

Bệnh Viện Tâm Thần, Hồ Chí Minh

Điều trị, tư vấn tâm lý tâm thần.

Đặt hẹn khám: NHẤN GỌI BÁC SĨ  PHƯƠNG   

Đàm Văn Đức

Bác sĩ Đàm Văn Đức

Viện Tâm Thần Bạch Mai, Hà Nội

Chuyên gia lĩnh vực tâm thần khoa tâm thần

Đặt hẹn khám: NHẤN GỌI BÁC SĨ  ĐỨC  

Nguyễn Trọng Tuân

Bác sĩ Nguyễn Trọng Tuân

Bệnh Viện Tâm Thần, Hồ Chí Minh

Điều trị tâm thần người lớn

Đặt hẹn khám: NHẤN GỌI BÁC SĨ TUÂN  

 

Trieu-Chung

3. Loạn trương lực cơ toàn thể

Loạn trương lực cơ khu trú chỉ ảnh hưởng một vị trí cơ thể, vị trí phổ biến nhất là cổ (chứng vẹo cổ co thắt), mi mắt (chứng co thắt mi mắt), phần dưới của mặt (hội chứng Meige), hoặc bàn tay (chứng vọp bẻ do viết chữ nhiều, hoặc loạn trương lực cơ ở chi). Tuỳ theo phần nào của cơ thể bị ảnh hưởng mà bệnh gây tàn phế nhiều hay ít.

Có 3 cách điều trị triệu chứng loạn trương lực cơ: tiêm botulinum toxin (botox), uống thuốc và phẫu thuật. Có thể điều trị đơn độc hoặc phối hợp các phương pháp trên. Tiêm botox làm ức chế dẫn truyền thần kinh-cơ và do đó làm giảm đi các vận động hoặc tư thế bất thường. Phẫu thuật sẽ được cân nhắc nếu các điều trị khác không hiệu quả. Mục tiêu của phẫu thuật là cắt đứt con đường tạo ra những vận động bất thường của hệ thần kinh, tác động vào những vùng nhỏ của đồi thị (phẫu thuật đồi thị), cầu nhạt (phẫu thuật cầu nhạt), hoặc những trung tâm khác ở sâu trong não. Gần đây, kỹ thuật kích thích não sâu (DBS) đã có một số thành tựu trong cải thiện tiên lượng của người bệnh. Những phẫu thuật khác bao gồm cắt những dây thần kinh đi đến các rễ thần kinh ở vùng cổ gần với tuỷ sống, hoặc loại bỏ các dây thần kinh tại vị trí chúng đi vào các cơ đang co thắt.

4. Run vô căn

Run vô căn là cử động run hoặc lắc tự phát, thường xảy ra ở một hoặc hai bàn tay hay cánh tay, run thường nặng thêm khi cố gắng thực hiện các động tác cơ bản. Theo thống kê, bệnh run vô căn thường gặp ở người trên 65 tuổi. Bệnh xảy ra do bất thường trong những vùng não kiểm soát vận động và không có nguyên nhân khác gây run (ví dụ: bệnh Parkinson). Khoảng 50% bệnh nhân có tiền sử gia đình bị bệnh. Bệnh thường không gây ra những biến chứng nghiêm trọng nhưng có thể làm khó chịu và lo lắng.

Triệu chứng run vô căn

Trong một số trường hợp, vật lý trị liệu và thay đổi lối sống có thể làm giảm triệu chứng. Nếu bệnh ảnh hưởng đến công việc và hoạt động hàng ngày hoặc tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, khi đó cần xem xét điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật. Khoảng 50-75% bệnh nhân dùng thuốc giảm được triệu chứng run của họ. Thuốc thường dùng là thuốc ức chế beta, thuốc chống động kinh, thuốc an thần và ức chế. Thuốc ức chế beta thường chỉ nên dùng cho bệnh nhân trẻ vì chúng có thể gây giảm trí nhớ và lú lẫn ở bệnh nhân lớn tuổi. Tiêm botox có thể làm ức chế dẫn truyền thần kinh-cơ do đó cũng có hiệu quả giảm run trong điều trị run vô căn.

Nếu bị run quá nặng và ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày, khi đó nên xem xét phẫu thuật. Phẫu thuật phá huỷ một phần của đồi thị, có chức năng nhận thông tin cảm giác. Hiếm khi người ta phẫu thuật đồi thị cả hai bên vì nguy cơ gây mất khả năng nói rất cao . Khi người bệnh không cải thiện tình trạng kể cả dùng thuốc phối hợp ,Kích thích não sâu (DBS) là một phương pháp điều trị can thiệp được lựa chọn hang. Một sợi dây mảnh như sợi tóc được cấy vào đồi thị và kết nối với máy kích thích thần kinh được cấy dưới xương đòn. Máy kích thích thần kinh truyền các xung điện dọc theo dây dẫn vào trong đồi thị làm ức chế các tín hiệu gây ra run.

5. Bệnh Huntington

Bệnh Huntington là một bệnh lý thoái hoá tiến triển và gây tử vong, bệnh gây ra do chết các tế bào thần kinh trong não. Bệnh hay xảy ra nhất ở lứa tuổi 35-50 tuổi với diễn tiến nặng dần không hồi phục trong khoảng 10-25 năm. Tỉ lệ bệnh ở Mỹ khoảng 1/10000. Thể bệnh thanh thiếu niên, xảy ra ở những bệnh nhân khoảng 20 tuổi hoặc nhỏ hơn, chiếm khoảng 16% tổng số trường hợp. Triệu chứng bao gồm giật cơ, những cử động không kiểm soát được ở chân tay, thân mình và mặt; Sa sút trí tuệ tiến triển; Phát sinh những vấn đề tâm thần. Bệnh do di truyền, đứa trẻ có một cha hoặc mẹ bị bệnh sẽ có xác suất 50% bị bệnh Huntington.

Hiện không có phương pháp điều trị bệnh Huntington, vì thế điều trị nhằm vào giảm triệu chứng, phòng ngừa biến chứng và giúp bệnh nhân cũng như các thành viên trong gia đình giải quyết các khó khăn hàng ngày. Bác sĩ có thể dùng thuốc chống loạn thần, chống trầm cảm, chống lo âu, thuốc ổn định khí sắc hoặc tiêm botox. Những thuốc này được dùng ở liều thấp nhất có hiệu quả vì tất cả các thuốc này có thể có tác dụng phụ.

Bệnh Huntington thường diễn tiến đến giai đoạn cuối trong 10-30 năm. Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận nếu triệu chứng xảy ra sớm hơn thì bệnh thường tiến triển nhanh hơn.

6. Bệnh Parkinson

Bệnh Parkinson là một bệnh tiến triển do thoái hoá tế bào thần kinh trong phần não gọi là chất đen, giúp kiểm soát vận động. Những tế bào này bị chết hoặc suy yếu, làm giảm khả năng sản xuất ra một hoá chất quan trọng gọi là dopamine.

Bệnh Parkinson có nhiều triệu chứng phổ biến bao gồm run, đơ cứng chi hoặc cơ; mất dần các cử động tự phát nên thường dẫn đến giảm các kỹ năng trí tuệ hoặc thời gian phản ứng, thay đổi giọng nói hoặc giảm biểu cảm nét mặt; mất dần những cử động tự động thường dẫn đến giảm chớp mắt, giảm số lần nuốt và chảy dãi; tư thế đi cong cúi về trước, khuỷu tay, hông, và gối đều cong; bước đi không vững, không thăng bằng; sa sút trí tuệhoặc trầm cảm. Hiệp hội bệnh Parkinson ước tính mỗi năm có khoảng 60000 trường hợp bệnh Parkinson được chẩn đoán thêm mới. Trong khi nguy cơ bị Parkinson tăng theo tuổi, có 4% số bệnh nhân được chẩn đoán trước 50 tuổi.

Hầu hết bệnh nhân Parkinson được điều trị bằng thuốc để giảm triệu chứng bệnh. Xem xét phẫu thuật nếu thuốc không hiệu quả. Kích thích não sâu (DBS) nhân dưới đồi, cầu nhạt có thể hiệu quả với tất cả các triệu chứng vận động và đôi khi cho phép giảm nhiều được liều thuốc. Phẫu thuật đồi thị (thalamotomy) có thể giúp hết run bằng cách gây ra một tổn thương nhỏ trong một nhân đặc hiệu của đồi thị.

Bệnh Parkinson

7. Hội chứng Parkinson thứ phát

Hội chứng Parkinson Thứ Phát là bệnh có triệu chứng tương tự bệnh Parkinson nhưng nguyên nhân do tác dụng phụ của thuốc, các bệnh thoái hoá thần kinh khác, các bệnh lý hoặc tổn thương não. Như trong bệnh Parkinson, nhiều triệu chứng hay gặp như run, đơ cứng cơ hoặc chi; mất dần cử động tự phát,dẫn đến giảm các kỹ năng trí tuệ hoặc thời gian phản ứng, thay đổi giọng nói hoặc giảm biểu cảm nét mặt; mất dần những cử động tự động thường dẫn đến giảm chớp mắt, giảm số lần nuốt và chảy dãi; tư thế đi cong cúi về trước, khuỷu tay, hông, và gối đều cong; bước đi không vững, không thăng bằng; sa sút trí tuệ hoặc trầm cảm. Không giống bệnh Parkinson, nguy cơ bị hội chứng Parkinson thứ phát có thể giảm thiểu bằng cách dùng thuốc cẩn thận, đặc biệt là các loại thuốc chống loạn thần.

Những loại thuốc điều trị bệnh này đều có tác dụng phụ, vì thế trao đổi với bác sĩ điều trị về việc dùng thuốc là điều rất quan trọng. Thật không may, hội chứng Parkinson không đáp ứng với điều trị nội khoa tốt như bệnh Parkinson.

8. Co thắt cơ

Co thắt cơ là sự tăng co cơ làm cho cơ bị co cứng hoặc siết chặt, gây trở ngại cho vận động, lời nói hoặc bước đi.

Co thắt cơ thường do tổn thương ở bộ phận não hoặc tuỷ có chức năng kiểm soát cử động chủ ý như: xơ cứng rải rác, tổn thương tuỷ, liệt não, đột quỵ, tổn thương não do thiếu oxy, chấn thương đầu nặng, bệnh chuyển hoá như bệnh Lou Gehrig.

Để điều trị co thắt cơ, bác sĩ có thể yêu cầu bạn sử dụng thuốc để điều trị. Vật lý trị liệu với những bài tập cơ chuyên biệt giúp giảm độ nặng của triệu chứng. Phẫu thuật có thể dùng để giải phóng gân, hoặc cắt con đường dẫn truyền thần kinh-cơ. Tiên lượng phụ thuộc vào độ nặng của co thắt cơ và nguyên nhân gây ra triệu chứng.

9. Bệnh Wilson

Bệnh Wilson là một bệnh do gen, gây tích tụ đồng quá mức ở gan và não. Mặc dù sự tích tụ đồng bắt đầu từ lúc mới sinh, triệu chứng thường xuất hiện ở tuổi 6-40, nhưng thường nhất là cuối giai đoạn dậy thì. Tỉ lệ bệnh Wilson khoảng 1/30000 trên toàn thế giới. Đây là bệnh di truyền lặn, xảy ra bằng nhau ở cả nam và nữ. Cả cha và mẹ đều phải mang gen bệnh để cùng truyền cho đứa trẻ bệnh. Hậu quả của bệnh bao gồm bệnh gan, các vấn đề thần kinh và tâm thần. Các dấu hiệu thực thể bao gồm vàng da, báng bụng, nôn ra máu, đau bụng, run, đi khó, nói khó, nuốt khó. Dấu hiệu tâm thần bao gồm giết người, hành vi tự tử, trầm cảm và kích động. Nếu không được phát hiện và không điều trị, bệnh nhân chắc chắn tử vong.

Chẩn đoán sớm là vấn đề quyết định vì tổn thương gan có thể xảy ra trước khi xuất hiện triệu chứng. Các thành viên trong gia đình bệnh nhân bị bệnh Wilson cần phải tầm soát bệnh Wilson ngay cả khi họ không có triệu chứng. Xét nghiệm sàng lọc bao gồm đo nồng độ ceruloplasmin huyết thanh và đo lượng đồng trong nước tiểu 24 giờ. Điều trị bệnh bao gồm loại bỏ lượng đồng dư thừa trong cơ thể và phòng ngừa nó tái tích tụ. Kẽm acetate ức chế hấp thu đồng, tăng thải đồng qua phân và không có tác dụng phụ nghiêm trọng, vì thế thường là lựa chọn hang đầu cho điều trị. Điều trị suốt đời và dùng chế độ ăn tránh các thực phẩm giàu đồng.

Với mỗi dạng rối loạn vận động sẽ có các cách điều trị bệnh khác nhau. Nếu bạn thấy mình có dấu hiệu của bất cứ dạng rối loạn vận động nào nói trên, hãy đi khám bác sĩ để được điều trị bệnh. Bạn có thể liên hệ với các bác sĩ của Hello Doctor chúng tôi để nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ qua số điện thoại 1900 1246.

Bác sĩ khám, điều trị

Nguyễn Thi Phú

Thạc sĩ - Bác sĩ Nguyễn Thi Phú

Khoa: Tâm thần

Nơi làm việc: Bệnh viện Đại Học Y Dược

Kinh nghiệm: 15 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Nguyễn Trọng Tuân

Bác sĩ Nguyễn Trọng Tuân

Khoa: Tâm thần

Nơi làm việc: Bệnh viện Tâm thần TP Hồ Chí Minh

Kinh nghiệm: 17 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Đàm Văn Đức

Bác sĩ Đàm Văn Đức

Khoa: Tâm thần

Nơi làm việc: Đại học Y Hà Nội

Kinh nghiệm: 11 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Nguyễn Trọng Hiến

Bác sĩ Nguyễn Trọng Hiến

Khoa: Tâm thần

Nơi làm việc: Bệnh viện Lão khoa Trung ương

Kinh nghiệm: 11 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Trần Thị Thu Phương

Bác sĩ Trần Thị Thu Phương

Khoa: Tâm thần

Nơi làm việc: Bệnh viện Tâm Thần Tp. Hồ Chí Minh

Kinh nghiệm: 15 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Phạm Văn Trụ

Bác sĩ Phạm Văn Trụ

Khoa: Tâm thần

Nơi làm việc: Bệnh viện Tâm thần Tp Hồ Chí Minh

Kinh nghiệm: 35 năm

Vị trí: Phó giám đốc bệnh viện

Đánh giá, chia sẻ Gửi đánh giá

  • Vũ Ngọc Ánh

    Ông tôi cũng đang bị run vô căn. Nhưng nhờ được điều trị kịp thời và có chế độ dinh dưỡng hợp lý nên bệnh tình đã thuyên giảm phần nào.

    05/02/2018
  • Lê Thị Uyên

    Ông tôi mới đi khám và cũng bị bảo là bị bệnh Parkinson. Tôi tìm hiểu thông tin thì biết đến bài viết này, tôi đã hiểu rõ hơn về căn bệnh này. Cảm ơn bác sĩ.

    05/10/2017
  • Bùi Xuân Tiến

    Một bài viết tổng hợp hay, chia sẻ nhiều kiến thức rất bổ ích

    28/09/2017
Phạm Quang Long (05/02/2018)
Ông tôi cũng đang bị căn bệnh Parkinson. Ông tôi gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt là khi vận động. Ông tôi từ một người khỏe mạnh bây giờ trở thành một người ngay đến cả các công việc đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày cũng phải cần người giúp. Nhiều lúc tôi nghĩ sao trên đời lại có những căn bệnh quái ác như thế này.

Bình luận, đặt câu hỏi

Các thông tin cá nhân của bạn sẽ không bị công khai

Nội dung

Đọc thêm

Bài viết đang được cập nhật...