Nhiễm sán

Nhiễm sán

Nhiễm sán lá xảy ra trên toàn thế giới. Sán lá có chu kỳ sống phức tạp, xen kẽ sự phát triển vô tính và hữu tính ở những vật chủ khác nhau.

  1. Dịch tễ học
  2. Biểu hiện lâm sàng
  3. Nguyên nhân gây nhiễm sán
  4. Biến chứng nhiễm sán
  5. Chẩn đoán phân biệt
  6. Các xét nghiệm
  7. Điều trị nhiễm sán
  8. Phòng ngừa nhiễm sán

Bác sĩ chuyên khoa

Phạm Minh QuânBác sĩ Phạm Minh Quân

Bệnh viện Nhiệt Đới, Tp.Hồ Chí Minh

Để nhận được trợ giúp: NHẤN GỌI BÁC SĨ  QUÂN 

 

Bùi Đức Dương

Phó Giáo Sư- Bác sĩ Bùi Đức Dương

Hơn 21 năm kinh nghiệm.

Để nhận được trợ giúp: NHẤN GỌI BÁC SĨ DƯƠNG  

 

Trieu-Chung

 

Tùy thuộc vào môi trường chúng kí sinh trong vật chủ bị nhiễm bệnh, sán  lá có thể được phân loại thành:

  • Sán lá máu: Schistosoma haematobium, Schistosoma mansoni, Schistosoma japonicum, Schistosoma mekongi, Schistosoma intercalatum.
  • Sán lá gan: Fasciola hepatica, Clonorchis sinensis (còn gọi là Opisthorchis sinensis), Opisthorchis viverrini.
  • Sán lá phổi: Paragonimus westermani.
  • Sán lá ruột: Fasciolopsis buski, Metagonimus yokogawai, Heterophyes heterophyes.

Các vật chủ trung gian là cá, tôm cua và ốc các loại. Không có dấu hiệu lâm sàng đặc hiệu cho việc nhiễm sán lá.

nhiễm sánnhiễm sán

nhiễm sánnhiễm sán

1. Dịch tễ học

C. sinensis là loài đặc hữu ở châu Á bao gồm Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam, với 15-20 triệu người bị nhiễm bệnh, và 200 triệu người có nguy cơ nhiễm bệnh. O. viverriniis tìm thấy chủ yếu ở đông bắc Thái Lan, Lào và Kampuchea. O. felineusis tìm thấy chủ yếu ở châu Âu và châu Á, bao gồm cả Liên Xô cũ. Ít nhất 10 triệu người bị nhiễm các loài Opisthorchis ở Lào và Thái Lan. Tỷ lệ nhiễm ở các vùng lưu hành có thể cao tới 25%.

F. hepatica được tìm thấy trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Bolivia, Peru, Ai Cập, Iran, Bồ Đào Nha và Pháp và khoảng 3 triệu cá nhân bị nhiễm bệnh.

Sán lá ruột được tìm thấy ở Ai Cập, Trung Đông và Viễn Đông (Heterophyes), cũng như Siberia, Mãn Châu, các bang Balkan, Israel và Tây Ban Nha (Metagonimus), châu Á và tiểu lục địa Ấn Độ (Fasciolopsis) .

P. westermanii được tìm thấy ở châu Á bao gồm Trung Quốc, Philippines, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan và Thái Lan. Các loài khác được tìm thấy ở châu Phi và Trung và Nam Mỹ. Một số trường hợp nhiễm P.kellicottii đã được mô tả ở vùng Trung Tây Hoa Kỳ.

2. Nguyên nhân gây ra bệnh nhiễm sán lá

Ăn cá sống hoặc chưa được nấu chín là yếu tố nguy cơ chính gây nhiễm sán Clonorchis và Opisthorchis ở các vùng lưu hành. Các trường hợp hiếm gặp xảy ra ở Mỹ do tiêu thụ cá nhập khẩu.

Nhiễm sán Fasciola do ăn thực vật chưa được rửa sạch như cải xoong, rau cần tây…và cá chưa nấu chín.

Nhiễm sán Pargonimus do ăn cua và tôm chưa nấu chín hoặc ngâm trong muối.

3. Các dấu hiệu, triệu chứng và biểu hiện lâm sàng bệnh nhiễm sán lá

Sán lá gan nhỏ (Clonorchis và Opisthorchis)

  • Nhiễm C. sinensis và O. viverrini cấp tính thường không có triệu chứng. Ngay sau khi nhiễm C. Sinensis, người bệnh có thể nổi mề đay, đau hạ sườn phải và sốt. Sốt cao, đau khớp và hạch to cũng như đau bụng có thể xảy ra sau khi nhiễm O. felineus. Các triệu chứng mãn tính bao gồm đau bụng và khó chịu, sụt cân và biếng ăn.
  • Gan to và đau hạ sườn phải có thể gặp trong cả 2 trường hợp cấp tính và mãn tính.

Sán lá gan lớn (Fasciola)

  • Hội chứng đặc biệt có liên quan đến các giai đoạn cấp tính và mãn tính của nhiễm trùng
  • Giai đoạn cấp tính có thể kéo dài trong vài tháng và xảy ra trong vòng vài tuần sau khi bị nhiễm trùng. Các triệu chứng liên quan đến việc ấu trùng của ký sinh trùng di chuyển đến nhu mô gan bao gồm đau bụng, ho, nổi mề đay và sốt. Các triệu chứng của nhiễm trùng mạn tính thường không đặc hiệu và tương tự như ở Clonorchis và Opisthorchis.

Sán lá ruột

  • Hầu hết các bệnh nhiễm sán đều không có triệu chứng.
  • Nhiễm sán nặng có thể xuất hiện sốt, sụt cân, đau bụng, tiêu chảy, phù toàn thân và tắc nghẽn.

Sán lá phổi

  • Các triệu chứng chủ yếu bao gồm ho mãn tính, ho ra máu và có đờm màu nâu.
  • Đau ngựckhó thở khá phổ biến.
  • Nhiễm sán cấp tính có thể kèm theo đau bụng, tiêu chảy và nổi mề đay hoặc không có triệu chứng.
  • Kí sinh ngoài phổi có thể dẫn đến các triệu chứng phụ thuộc vào vị trí bị ảnh hưởng. Kí sinh ở hệ thần kinh trung ương có thể dẫn đến nhức đầu, co giật, các triệu chứng thần kinh khu trú hoặc viêm màng não.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhiễm sán

4. Biến chứng của bệnh nhiễm sán lá

Sán lá gan

  • Các biến chứng lâu dài liên quan đến nhiễm trùng mãn tính với tất cả các sán lá gan bao gồm đau hạ sườn phải, chán ăn và sụt cân.
  • Các biến chứng liên quan đến việc viêm và tắc nghẽn do số lượng sán quá nhiều như viêm túi mật, viêm đường mật, áp xe gan và viêm tụy.
  • Ung thư đường mật có liên quan đến nhiễm Opisthorchis và Clonorchis mãn tính.
  • Ấu trùng F. Hepatica kí sinh lạc chỗ trong giai đoạn cấp tính ban đầu có thể dẫn đến các nốt sần và triệu chứng viêm ở hầu hết các cơ quan.

Sán lá ruột

  • Tắc ruột và tắc nghẽn có thể xảy ra khi có quá nhiều sán tại một vị trí. Đôi khi, sự xâm nhập trứng sán thông qua hệ tuần hoàn có thể gây ra biến chứng thần kinh nghiêm trọng.

Sán lá phổi

  • Ấu trùng di chuyển, xâm nhập não bộ là biến chứng ngoài phổi phổ biến và nghiêm trọng nhất của nhiễm trùng P. westermanii.

5. Chẩn đoán phân biệt bệnh nhiễm sán lá

Các triệu chứng gây viêm gan hoặc tổn thương gan do các nguyên nhân khác có thể tương tự nhiễm trùng gan, ví dụ như áp xe gan do vi khuẩn hoặc amipe, bệnh sán máng, viêm túi mật, viêm đường mật và viêm gan cấp tính.

Lao phổi, các bệnh viêm phổi mãn tính do vi khuẩn, nấm hoặc bệnh ác tính có hình ảnh X-quang tương tự với nhiễm Paragonimiasis.

Kí sinh ngoài phổi, đặc biệt là Paragonimus, có thể giống với khối u thần kinh trung ương (CNS) hoặc các bệnh nhiễm trùng khác như áp xe não hoặc nhiễm ấu trùng sán dải heo ở não.

6. Các xét nghiệm xác định bệnh nhiễm sán

  • Chẩn đoán thường được đưa ra sau khi soi trứng sán bằng kính hiển vi.
  • Các phương pháp chẩn đoán khác bao gồm phát hiện kháng nguyên bằng xét nghiệm miễn dịch liên kết enzyme (ELISA) và xét nghiệm kháng thể huyết thanh bằng cách sử dụng ngưng kết hồng cầu gián tiếp, miễn dịch huỳnh quang gián tiếp và ELISA.
  • CTM:
  • Có thể cho thấy bạch cầu ưa eosin ở những bệnh nhân bị bệnh sán lá gan, bệnh sán máng, heterophyiasis, metagonimiasis (sán lá ruột nhỏ), giai đoạn đầu của paragonimiasis, và clonorchiasis cấp tính (biến mất trong clonorchiasis mãn tính).
  • Thiếu máu có thể gặp ở những bệnh nhân bị bệnh sán máng, bệnh sán lá gan và paragonimiasis.
  • Giảm bạch cầu trung tính có thể gặp ở những bệnh nhân bị bệnh giun sán.
  • Nước tiểu: tiểu máu đại thể hoặc vi thể có thể tìm thấy ở những người bị bệnh sán máng.
  • Dịch não tủy (CSF): tăng áp lực CSF và tăng bạch cầu hạt, bạch cầu ưa eosin trong CSF có thể xảy ra ở những người bị paragonimiasis não.
  • Xét nghiệm hình ảnh bao gồm Xquang ngực, siêu âm, CT, MRI và hình ảnh đường mật.

7. Các phương pháp điều trị bệnh nhiễm sán lá

Praziquantel vẫn là thuốc được lựa chọn cho tất cả các trường hợp nhiễm sán lá ngoại trừ nhiễm fasciolia, khi đó bithionol là thuốc được lựa chọn. Ngoài ra còn có các thuốc thay thế như Albendazole, triclabendazole, nitazoxanide…

Có thể cần điều trị phẫu thuật cho các biến chứng nhiễm sán lá, như ung thư biểu mô bàng quang ở bệnh nhân nhiễm sán máng đường tiểu, xơ hóa và dày thành ruột ở những người bị bệnh sán máng ruột, viêm đường mật tiến triển ở những người bị bệnh sán lá gan và ung thư đường mật ở những người bị nhiễm clonorchiasis.

8. Phòng ngừa bệnh nhiễm sán lá

  • Diệt trừ các loài kí chủ thân mềm như ốc để kiểm soát việc nhiễm các loại sán máng, sán ở ruột, gan và phổi.
  • Vệ sinh, xử lý đúng cách chất thải của người và động vật để tránh ô nhiễm nước.
  • Điều trị bằng thuốc cho người bị nhiễm bệnh.
  • Tránh sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm, thực vật thủy sinh, trái cây, các loại cá, cua và gan sống.
  • Rửa và làm sạch thật kỹ rau sống và thực vật thủy sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng sán lá ruột.
  • Nấu chín kỹ các loại rau trồng dưới nước trước khi ăn.
  • Nấu chín cua tôm cá trước khi ăn để tránh nhiễm sán lá phổi, sán lá gan.

​Hãy liên hệ ngay với Hello Doctor theo số điện thoại 1900 1246 nếu bạn cần được hỗ trợ và giúp đỡ.

Bác sĩ khám, điều trị

Phạm Minh Quân

Bác sĩ Phạm Minh Quân

Khoa: Nội tổng quát, Truyền nhiễm

Nơi làm việc: Bệnh viện Nhiệt Đới, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Kinh nghiệm: 10 năm

Vị trí: Bác sĩ chuyên khoa

Bùi Đức Dương

Phó giáo sư -Tiến sĩ y học - Thầy thuốc nhân dân Bùi Đức Dương

Khoa: Hô hấp, Truyền nhiễm

Nơi làm việc: dự án Quỹ toàn cầu phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam

Kinh nghiệm: 21 năm

Vị trí: Giám đốc

Đào Đình Mậu

Bác sĩ Đào Đình Mậu

Khoa: Ung thư, Da liễu, Truyền nhiễm

Nơi làm việc: Bệnh viện Quân Y 354

Kinh nghiệm: 25 năm

Vị trí: Trưởng khoa

Đánh giá, chia sẻ Gửi đánh giá

  • Trung Hậu

    Bài viết rất hữu ích. Cảm ơn bác sĩ.

    15/08/2018

Bình luận, đặt câu hỏi

Các thông tin cá nhân của bạn sẽ không bị công khai

Nội dung

Đọc thêm

Bài viết đang được cập nhật...